Kế nghiệp vua Thái Tông là thái tử Nhật Tông, tức vua Thánh Tông lấy niên hiệu lần đầu là Long Thụy Thái Bình (1054 – 1058) đặt quốc hiệu là Đại Việt. Nước ta ngót một trăm năm đến bây giờ vẫn gọi là Đại Cồ Việt.
Lý Thánh Tông (1054 – 1072) - Nhà Lý
 
Vua Thái Tông nổi tiếng là một vị anh quân và có nhiều đức độ. Chính trị của ngài lấy sự thương dân như con làm căn bản.
 
Tháng tư năm Bính Thân (1056) ngài ban chiếu khuyên dân làm ruộng. Tháng tám năm Kỷ Hợi (1059) ngài cho chế triều phục. Các quan phải đội khăn bịt đầ, đi hài có bí tất vào chầu cho có vẻ trang nghiêm. Ngài lập điện Thủy Tinh, điện Thiên Quang. Quan chức thì có chức Phụ quốc Thái Úy, Gián nghị đại phu, Tả hữu lang trung viên ngoại lang, Khu mật sứ, Kim ngô, Lĩnh binh. Triều đại của ngài kể ra đến bấy giờ là văn vật hơn cả và tiến dần đến chỗ vẻ vang. (Khâm định Việt sử 9.3 tờ 23b).
 
Tháng tư năm Canh Tuất (1070) trời làm đại hạn, ngài cho lấy tiền của và thóc trong kho chẩn cấp cho dân (Khâm định Việt sử 9.5 tờ 29). Ngài đặt ra tiền dưỡng liêm để tránh sự sa ngã cho quan lại. Năm Đinh Mùi (1067) ngài cho Nguyễn Trọng Hòa và Đăng Thê Tư làm Đô hộ phủ sĩ sư, đổi 10 người thủ gia làm
lại án ngục. Ngài ban cho Trọng Hòa và Thế Tư mỗi năm mỗi người 50 quan tiền và 100 bó thóc, cá và muối tùy tiện đủ dùng. Mỗi người ngục lại mỗi năm được 20 quan tiền và 100 bó thóc để nuôi tính trong sahcj cho các hình quan).
 
Về việc dưỡng liêm, Ngô Ngọ Phong, tức Ngô Thời Sĩ nói: Dưới đời nhà Lý các quan trong ngoài đều không có cấp bổng. quan trong thì thỉnh thoảng được ban thưởng. QUan ngoài được dân mỗi địa phương tùy tiện đặt người thu những thuế điền thổ, bờ, đập mà cung cấp. Quan phải dạy dân cày cấy, thả cá để
cùng hưởng lợi. Đến bấy giờ bình quan mới có lương bổng. Đối với các phạm nhân, ngài cũng mở lượng khoan hồng, cho ăn mặc đầy đủ. Năm Tân Hợi (1071) ngài định lệ chuộc tội bằng tiền tùy theo nặng nhẹ. Về vấn đề này (năm 1028 – 1054) trong đời vua Lý Thái Tông đã lập thành lệ, vua Thánh Tông sau này chỉ sửa đổi lại mà thôi.
 
Về võ bị, tuy nước được thái bình, ngài cũng rất lưu ý đến. Năm Kỷ Hợi (1059) ngài định các hiệu quân là: Ngũ Long, Võ Thắng, Long Đức, Thần Điện, Bổng Thánh, Bảo Thắng, Hùng Lược và Vạn Tiệp. Bốn bộ hợp lại thành 100 đội. Mỗi đội có lính kỵ mã và lính bắn đá. Do sự bổ xung này số cấm quân đến đời vua Thánh Tông gần tăng gấp đôi; còn thứ binh sĩ để giữ an ninh, trật tự trong nước và đề phòng xâm lăng không có nhất định. Người dân đến tuổi phải đi lính một thời gian ngắn và có lẽ như dưới đời nhà Đinh, họ được luân phiên để vừa làm bổn phận với Nhà nước, vừa làm việc với gia đình, tức là vừa là lính vừa là nông dân. Việc này gọi là “đi phen”. Trong khi đi phen, họ đóng ở các phủ, huyện, châu để phòng khi động dụng. Hạng lính này dĩ nhiên nhiều hơn lính cấm vệ, nhưng tập luyện ít ỏi hơn.
 
Ngoài ra quân lính đều có khắc trên trán ba chữ “ Thiên Tử Quân” như dưới đời Tiền Lê. Binh chế nhà Lý nổi tiếng đời bấy giờ khiến nhà Tống phải bắt chước. Chúng tôi tiếc rằng không thấy có sử liệu nói nhiều về các tổ chức quân sự dưới triều vua Thánh Tông để bày tỏ đầy đủ hơn, chỉ biết theo Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quý Đôn, quyển IV, tờ 42a; Thái Diên Khánh là quan nhà Tống làm Tri Châu ở Hoạt Châu (một châu của Tàu ở gần biên giới ta) có dâng lên vua Tống Thần Tông (1068 – 1085) cuốn An nam hành quân pháp bắt được của nhà Lý. Trong sách này có ghi chép việc tổ chức binh đội như sau đây, và chúng tôi ngờ rằng việc tăng cường binh đội như sau đây, và chúng tôi ngờ rằng việc tăng cường binh đội này đã
phát xuất dưới hai triều Thái Tông và Thánh Tông đã có nhiều đặc biệt nên binh đội của ta đã khá mạnh khiến Trung Quốc phải chú ý:
 
Chính binh là các đơn vị sử dụng cung tên và kỵ mã do 9 phủ tướng thống xuất. Các đơn vị này có
100 đội. Mỗi đội có 4 bộ: tả, hữu, tiền, hậu.
 
– Quân trú chiến tức là quân đội vừa đóng giữ vừa chiến đấu tại chỗ.
 
– Quân thác chiến dùng vào cuộc tấn công và lưu động (Mỗi tướng đều có kỵ binh và vũ khí như nhau).
– Phiên binh thì đặt từng đội riêng để đề phòng sự bất chắc. (Đây là hạng lính già yếu để giữ thành). Do tài liệu này ta thấy binh chế đời Lý có một đặc sắc nhất là biết sử dụng kỵ binh nó có giá trị hay
không thì coi cuộc phạt Tống bình Chiêm liên tiếp sau này đủ rõ. Ngoài ra nhà Tống phải bắt chước nhà Lý
về binh chế thì càng có t hể tin binh chế của chúng ta thuở đó đã khá hoàn bị. Tóm lại vào hạ bán thế kỷ thứ XI nước ta đa xkhas mạnh về quân sự tại Đông Nam Á Châu.
 
1 – Việc Mở Mang Phật Giáo và Nho Giáo.
 
Vua Thánh Tông làm vua được hai tháng, năm Ất Vị (1055) tháng giêng ngài cho sửa các miếu trong Đại nội. Mùa đông năm Đinh Dậu (1058) ngài cho sửa cửa Tường Phù (tức là cửa Đông thành Thăng Long) dựng lên từ năm thứ nhất hiệu Thuận Thiên (1010). Tháng tám năm Canh Tý (1060) ngài cho làm Hành cung ở bên cạnh Dâm Đậm hồ (Tây Hồ) để thỉnh thoảng ngự ra xem đánh cá. Tháng chín năm Bính Ngọ (1066) ngài sai Lang tướng Quách Mậu dựng một cái tháp ở núi Tiên Du (Bắc Ninh). Năm Canh Tuất
(1070) ngài cho dựng điện Tử Thần. Tháng giêng năm Tân Hợi (1071), hiệu Thần Vũ thứ hai, ngài cho xây miếu thờ Khổng Tử là ông tổ đạo Nho tại phía Nam Thành Thăng Long (Hà Nội) cho tô tượng Chu Công, Khổng Tử và tượng tứ phối (bốn vị phối hưởng là Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử) vẽ tượng Thất Thập Nhị Hiền (72 người học trò giỏi của đức Khổng). Xét ra việc xây dựng văn miếu và đúc tượng này là lần đầu tiên có ở nước ta. Để cổ súy Nho giáo được mãnh liệt, xuân thu nhị kỳ triều đình cho cúng tế
Khổng Tử và chư hiền rất long trọng. Nhà vua lấy ngày thượng đình tế ở Văn Miếu. Các quan theo ngày trung đình tế ở Văn chỉ hàng tỉnh. Dân vào ngày hạ đình tế ở Văn chỉ hàng xã. Văn miếu lại còn là nơi học tập của các hoàng tử.
 
Theo sự nhận xét của chúng tôi thì nhà Lý mở nước năm 1010, sáu mươi năm sau mới có việc tôn thờ Khổng Tử và sùng bái chư hiền. Như vậy đạo Nho đã đi sau đạo Phật, nhưng bắt đầu có đà tiến triển từ bấy giờ.
 
Một việc cứng cỏi về ngoại giao dưới đời Lý Thánh Tông: mùa xuân năm Canh Tí (1060) chức Mục ở Lang Châu (Lạng Sơn) là Thân Thiệu Thái đuổi theo bắt những quân trốn tránh sang cõi Tống, bắt được chức chỉ huy sứ của nhà Tống là Dương Bảo Tài và sĩ tốt, trâu ngựa đem về. Đến tháng bảy, quân Tống sang xâm lấn không được, bèn sai Lại Bộ thị lang là Dữ Tĩnh đến châu Ung mở cuộc hội nghị với nhà Lý. Vua Lý sai Phi Gia Hữu đi dự. Dư Tĩnh tặng cho Gia Hữu rất hậu và đưa thư xin trả lại Bảo Tài, vua ta không chịu (Đại Việt sử Ký Toàn Thư 2.3 tờ 25b).
 
2 – Vua Lý Thánh Tông Đánh Chiêm Thành
 
Từ khi nước ta giành được độc laoaj (thế kỷ thứ X) việc đánh Chiêm Thành đã là một việc thường xuyên. Như ta biết, dân Chiêm quen cậy hùng mạnh hay quấy nhiễu nước ta từ thế kỷ thứ hai dưới đời vua Hòa Đê (102 sau C.L) nhà Đông Hán. Chiêm quốc dưới con mắt của các vua chúa ta là một cái nhọt bọc rất khó trị và nguy hiểm, nên từ nhà Tiền Lê đã quan niệm rằng không đnáh Chiêm thì Chiêm cũng đnáh
mình, rồi từ đây, triều đại nào hầu yên nội bộ đều mang quân Nam Chinh.
 
Xin lược qua việc đánh Chiêm đả khởi từ đời Tiền Lê, qua nhà Đinh là triều đại vừa thực hiện xong nền thống nhất thì Ngô Nhật Kháh là một trong 12 sứ quân bị bại chạy qua Chiêm Thành xui Chiêm đem quân tấn công vào đất Việt. Năm Kỷ Mão (979) hơn một ngàn chiếc thuyền Chiêm tiến đến cửa Đại An tức là cửa sông Đáy thuộc hải phận Ninh Bình – Nam Định chẳng may bị bão đánh chìm. Nhật Khánh cùng
một phần lớn quân Chiêm làm mồi cho cá. Quân Chiêm không bị đánh màtan, đáng tiếc cho kinh đô Hoa
Lư mất cơ hội ghi một vài chiến công oanh liệt của giống nòi Việt Nam vào lịch sử.
 
Đến Lê Hoàn lên ngôi, sứ giả Đại Việt là Từ Mục và Ngô Tử Canh sang giao hiếu bị Chiêm giữ lại. Vua Tiền Lê nổi giận, rồi thành trì, tong miếu của vua Chiêm một phen bị san phẳng, đồng thời một số con dân Chiêm phải theo ngọn cờ chiến thắng vê flafm lưu dân dùng vào việc khẩn hoang ở các đồn điền của
ta.
 
Đó là cuộc Nam Chinh đầu tiên của chúng ta và cũng là dịp đầu tiên dân Chiêm Thành kiệt hiệt, phú cường từ đầu Tây lịch kỷ nguyên biết mùi chiến bại với Việt tộc.
 
Vua Thái Tông nhà Lý lên ngôi, Chiêm Thành chịu xưng thần nộp cống, rồi Chiêm bị nội loạn, con cháu vua Chiêm giành nhau địa vị nên Nam Thùy của ta bớt được sự quấy đảo trong một thời gian. Nhưng sau ít lâu, Chiêm bỏ cống luôn 16 năm và lại tiếp tục gây rối ở ven biển của ta. Năm 1044, vua Thái Tông thân chinh vào Chiêm quốc, giết chúa Sạ Đẩu, bắt 30 con voi, 5000 dân và giết gần ba vạn người không kể số cung nhân, nhạc nữ đem về nước.
Lý Thánh Tông (1054 – 1072) - Nhà Lý
 
Dĩ nhiên Chiêm lại hàng, nhưng sự hành phục của Chiêm bao giờ cũng ngắn ngủi, bởi họ là một dân tộc có óc quật cường rất mạnh và chí phục thù rất bền bỉ!
 
Năm 1065 – 1069, Chiêm bỏ cống, vua Thánh Tông nối nghiệp phụ vương lại đem quân Nam Chinh. Nhưng một vài sử gia cho rằng tới giai đoạn lịch sử này cuộc bình Chiêm chẳng phải riêng vì việc đoạn tuyệt giao hiếu, mà vì Đại Việt bắt đầu thi hành chính sách đế quốc, dựa vào chỗ CHiêm có tinh thần bất khuất đối với Đại Việt và lại lén lút thần phục nhà Tống. Cùng một nhịp với các vua kế tiếp sau này, ta thấy dân tộc Việt Nam cố gắng cựa quậy chẳng những về miền Nam lại còn lo bành trướng cả về phương Bắc. (xin coi bài nói về chánh sách Bắc thùy của nhà Lý dưới đây).
 
Từ chiêm vương Chế Cũ (rudravarman III) được vua Tống nâng đỡ, ban cho ngựa trắng và cho phép mua lúa ở Quảng Châu, Chiêm không tiếp tục nạp công nữa. Mọi hành động của Chiêm đều lọt hết vào con mắt của dân Việt một cách khiêu khích.
 
Cũng lúc này (1068) vua Lý Thánh Tông sửa soạn thêm chiến thuyền (việc giao thông từ thành Phật Thệ tới Giao Chỉ bằng đường núi theo lời sứ Chiêm tâu với vua Tống phải mất 40 ngày. Vua Tiền Lê trước đây có đào tân cảng và sửa chữa đường sá. Nhưng xem vậy, dùng thủy đạo vẫn dễ dàng cho việc chuyển quân hơn). Lực lượng quân sự của Lý triều có chừng 5 vạn, Lý Thường Kiệt được làm Đại tướng đi tiên phong, em Thường Kiệt là Thường Hiến giữ chức Tán ky Vũ úy. Mỗi chiến hạm chở 250 tên quân và
lương thực, tất cả có 200 chiếc.
 
Ở triều bấy giờ có Lan Thái Phi và Thái sư Lý Đạo Thành trông coi việc nước. Bảy ngày sau khi rời khỏi Thăng Long các đạo quân Việt đã có mặt ở Nghệ An, ba ngày sau tới cử Nam giới, phía Nam núi Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh), hải phận Chiêm Thành từ đó đã hiện ra trước mắt. (Sử chép ngày Canh Thân tới Nam giới, rồng nổi lên ở đầu thuyền Kim Phượng như lúc xuất chinh, Lý triều vốn tin nhiều dị đoan cho là điềm tốt. Điểm này có tính cách hoang đường. Có lẽ sử thần bịa đặt ra để tô điểm cho bản triều thuở đó). Năm ngày sau quân ta đến cửa Nhật Lệ là nơi tập trung của thủy quân Chiêm, bởi Chiêm có những giẫy
núi “xương sườn” cao ngất ngăn cản đường bộ từ Giao Chỉ vào cõi Chiêm. Ngoài núi Hoành sơn ở Cực
Bắc, có núi Hải Vân ở phía Nam Thuận Hóa, núi Đại Lãnh ở phía Nam Phú Yên, giữa các giẫy núi này có đồng bằng của dân Chiêm. Hình như sự giao thông của dân Chiêm từ nơi này qua nơi khác cũng bằng đường thủy và về phương diện quân sự, Chiêm chỉ cần giữ mặt biển hơn cả vì tin tưởng vào các đèo núi là những bức tường thành thiên nhiên.
 
Tại Nhật Lệ, thủy quân Chiêm xông ra cản đường. Tướng của ta là Hoàng Kiệt đánh tan rồi quân ta thẳng tiến về phía Nam không bị ngăn trở, mục đích của ta là tiến thẳng tới thành Phật Thệ phá kinh đô và bắt Quốc Vương. Bốn ngày sau nữa ta đến cửa Tư Dung nay gọi là Tư Hiền là cửa sông vào các phá và sông thuộc Quy Nhơn ta mất ba ngày nữa, tính tất cả là 26 ngày từ Thăng Long đến đấy.
 
Thành Phật Thệ (sau gọi là Chà Bàn mà ta thường chép lẫn ra là Đồ Bàn) ở vào địa phận tỉnh Bình Định ngày nay, ba phía Tây-Nam-Bắc có núi che chở, phía Đông giáp bể. Thủy quân của ta đổ bộ ở đây. Tướng Chiêm là Bố Bì Đà La giàn trận trên bờ sông Tu Mao chặn đánh. Quân ta xông lên giết được Bố Bì Đà La và rất nhiều binh sĩ. (Trận này được lịch sử gọi là trận Tu Mao).
 
Lý Thường Kiệt vượt được sông Tu Mao, lại qua hai con sông nữa mới tới kinh đô Chiêm. Đang đêm nghe tin quân của mình bại trận ở Tu Mao, Chế Củ mang vợ con chạy trốn. Dân trong thành thấy quân Đại Việt đến đều ra hàng.
 
Lý Thường Kiệt đem quân truy tầm theo phía Nam. Tháng tư quân ta tiến đến biên giới Chân Lạp, qua các vùng Phan Rang, Phan Thiết ngày nay mà Chàm gọi là Pandurango.
 
Vua Chiêm vốn có cựu thù với Chân Lạp nên hết đường chạy phải ra hàng, kết quả Chế Củ và năm
vạn quân bị cầm tù. Cuộc đuổi bắt vua Chiêm mất ngót một tháng. Người có công trong cuộc đại thắng này là Lý Thường Kiệt.
 
Tháng 5 vua ra lệnh sửa soạn lên đường.
 
Ngày 19 tháng 6 Quý Tỵ, thuyền về đến cửa Tư Minh, có lẽ là Tư Dung. Ngày 17 tháng 7 Tân Dậu, đạo quân Nam chinh về tới Thăng Long. Cuộc đón rước rất là long trọng. Các quan hữu tư sắp đặt binh
lính nghiêm trang, nghi vệ rực rỡ. Vua lên bộ ngự trên báu xa (xe nạm ngọc) quân thần cưỡi ngựa theo sau. Vua Chiêm mình mặc áo vải trắng, đầu đội mũ làm bằng cây gai, tay bị trói sau lưng do 5 tên lính Vũ đô bắt. quyến thuộc đi sau cũng bị trói.
 
Chế Củ xin dâng 3 châu Bố Chính, Ma Linh và Địa Lý để chuộc tội được tha về. Đáng chú ý từ Lê Đại Hành đến Lý Thánh Tông tuy có việc đánh Chiêm nhưng chỉ là việc bắt người lấy của nhưng chưa hề có việc bành trướng đất đai. Và nói đến vấn đề mở mang bờ cõi, ta nên để ý đến Lý Thường Kiệt là người rất ráo riết về ý chí này hơn hết, có lẽ bấy giờ (dưới đời Lý) nguồn sống ở miền đồng bằng Bắc Việt bắt
đầu đã thiêu. Công cuộc này tới các triều đại sau được theo đuổi thế nào, những trang dưới đây sẽ nói đầy đủ hơn.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here