Khi tìm kiếm nguồn gốc của thanh kiếm chém (Saber), có ba loại kiếm đáng được chú ý là kilij của đế quốc Ottoman, talwar của Ấn Độ. Thanh Kilij là một khơi điểm hữu dụng, bởi vì vào đầu thời cận đại, cây kiếm này đã có tầm ảnh hưởng rộng rãi từ Thổ Nhĩ Kỳ qua khắp Trung Đông và Châu Á ( bao gồm cả Ấn Độ ).

Vũ Khí Kiếm Chém

Nhờ sự cho phép củ đề quốc Ottoman và cuối cùng truyền cảm ứng cho thiết kế kiếm chém Châu Âu hoặc được người phương tây tiếp nhận trực tiếp. Về mặt thiết kế, Kilij có lưỡi dài, cong một cạnh sắc với chiều dài khoảng 85 cm. Trong hai phần bà chiều dài lưỡi kiếm ( tính từ chuôi kiếm) hai cạnh gần như song song với nhau nhưng ở một phần ba lưỡi kiếm còn lại sống kiếm loe ra, tạo nên một phần rộng bản hơn, nặng hơn tăng thêm sức nặng vào nhát chém.

Vũ Khí Kiếm Chém

Ngược lại, talwar hay shamshir thanh manh hơn, những đường cong của lưỡi kiếm thậm chí còn rõ nét hơn. Thực ra, thanh shamshir có đường cong gần như không hữu ích, theo một gốc 15độ từ cán kiếm tới mũi kiếm. Chuôi của thanh talwar có một tay nắm kiểu súng ngắn phinh lên ở giữa, kẹt giữa một núm chuôi hình đĩa và cánh đốc kiếm, thi thoảng kèm theo phần bảo vệ ngón tay cong về phía sau. Chuôi kiếm Shamshir thường đơn giản hơn, chỉ có cánh đốc kiếm ngắn và có hinh chữ L đơn giản.

Vũ Khí Chém

Tất cả những thanh kiếm này với các biến thể nhu thanh kiếm chém Ả Rập, là những vũ khí trọng yếu trên chiến trường. Chúng đặc biệt phù hợp để thực hiện những cú tấn công ( rút chém ) mạnh mẽ, tấn công đối thủ bằng phần đầu gắn mũi kiếm rồi rạch một đường dài. Những tư liệu của anh cuối thế kỷ 16 về chiến tranh ấn độ có ghi rằng talwar chém vỡ đôi mũ giáp đầu người chỉ bằng một nhát .

Vũ Khí Kiếm Chém

Với quân đội châu âu, những thanh kiếm cong được trang bị cho kỵ binh đến ít nhất là thế kỷ 16. Thiết kế bản xứ bao gồm những thanh kiếm những thanh mã tấu tụa tựa dao phay và những thanh kiếm săn to nặng, nhưng chính cuộc chiến ở Ấn Độ và cuộc chiến chống lại quân Otoman cùng các đội quân Hồi giáo Ả Rập mới thực sự khiến thanh kiếm chém và những thanh kiếm cong như vậy trở nên quen thuộc với người phương tây. Trong các thế kỷ 17 và 19, áo giáp tấm toàn thân trên chiến trường ngày càng ít xuất hiện ( ngoài tấm giáp che ngực được một số kỵ binh sử dụng) và súng ống đã thống trị chiến trường, vậy nên khinh kỵ đặc biệt cần một vũ khí tử thần có tốc độ nhanh trong đám đông hốn loạn.

Cải tiến 

Sĩ quan Anh john Gaspard Le Marchant, khi còn tại ngũ thời kỳ cánh mạng pháp , nhận thấy rằng những thanh kiếm thẳng , dài và nặng của nhiều linh kỵ binh Anh không tiện dung trong các cuộc cận chiến , chém mang tính bản năng hơn là đâm. Trước thực tế này , ông đã giúp thiết kế nên thanh kiếm chém khinh kỵ binh mẫu 1796, lấy hinh mẫu trực tiếp từ  những lưỡi gương của phương Đông. Nhẹ nhành và có khả năng gây ra những vết thương khủng khiếp, nó không chi được quân phổ, Bộ Đào Nha  và tây Ban Nha sử dụng . Le Marchant cũng viết một bản hướng dẫn về sử dụng kiếm thuật và huấn luyện .

Vũ Khí Kiếm Chém

Ở Anh, thanh kiếm chém 1796 đươc phát triển thêm vài phiên bản, trong khi những nước khác lại đặc ra những tiêu chuẩn riêng của mình, chẳng hạn như thanh An XI của pháp, thanh Shashka cổ điển của Nga ( nguồn gốc từ tận thế kỷ 12) và thanh kiếm chém mẫu 1860 của mỹ còn vô số loại khác chưa kể đến ( từ thế kỷ 17 sản xuất kiếm ngày càng mang tinh công nghiệp hóa, tạo ra nhiều kiểu mẫu đồng loạt chuẩn hóa cán và lưỡi kiếm để tranh bị cho các đội hinh lớn. Trên thực tế , thậm chí đên tận thời nội chiến mỹ ( 1861 đến 1865) ky binh trang bị kiếm chém vẫn là lực lượng quyết định kết cục của các cuộc chiến .

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here